0
  • VI KHUẨN LISTERIA MONOCYTOGENES VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN
  • Tổng quan về vi khuẩn listeria monocytogenes

    Trực khuẩn gây bệnh listeria monocytogenes là vi khuẩn gram dương, hiếu kỵ khí tùy tiện, có khả năng di động, vi khuẩn không tiết ra ngoại độc tố nhưng có nội độc tố gây hoại tử. Chúng sinh phát triển ở nhiệt độ 1oC - 45oC, tốt nhất là khoảng 45oC và ở pH: 6-8, do đó nó có thể tồn tại thời gian dài trong môi trường, chúng bị tiêu diệt bằng phương pháp thanh trùng và nấu chín. Nó tồn tại rộng rãi trong tự nhiên đất, phân, động vật, rau hỏng, nước thải, sữa, phô mai và một số thực phẩm đóng hộp từ động vật không đảm bảo vệ sinh. Vi khuẩn listeria có trong nguồn thực phẩm không đảm bảo vệ sinh là một nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm nguy hiểm.


    Khả năng gây bệnh của vi khuẩn listeria monocytogenes:


    Vi khuẩn sau khi xâm nhập vào cơ thể nếu qua đường tiêu hóa: Có thể gây bệnh tại đường tiêu hóa hoặc không chỉ gây bệnh ở đường tiêu hóa mà còn có thể xâm nhập vào máu gây tình trạng nhiễm khuẩn huyết hoặc lây lan sang hệ thần kinh trung ương gây viêm màng não, trường hợp gây bệnh nặng hay gặp ở những người có hệ miễn dịch suy yếu.Ở phụ nữ mang thai mắc bệnh có thể lây truyền sang thai nhi gây sảy thai, thai chết lưu, đẻ non hoặc trẻ sơ sinh bị nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não sau sinh từ 1 đến 4 tuần.Con đường lây bệnh: Vi khuẩn listeria có thể lây qua con đường sau
    Qua đường ăn uống: Khi ăn phải thức ăn bị nhiễm vi khuẩn, ngộ độc thực phẩm.Truyền từ mẹ sang con qua nhau thai hay trong quá trình sinh đẻ.Ở những người khỏe mạnh, dù ăn một lượng ít thức ăn có chứa vi khuẩn listeria cũng có thể không nhiễm bệnh, nhưng ở những đối tượng có nguy cơ cao dù một lượng nhỏ vi khuẩn listeria trong thức ăn cũng có thể gây ra bệnh.
    Phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinhNgười cao tuổi trên 65 tuổiNgười mắc bệnh suy giảm miễn dịch tự nhiên hay mắc phảiNhững người bệnh ung thư, tiểu đường, hay bệnh thậnVi khuẩn
    Vi khuẩn sau khi xâm nhập vào cơ thể nếu qua đường tiêu hóa

    Kiểm nghiệm listeria monocytogenes đáp ứng kiểm soát an toàn thực phẩm

    Phương pháp kiểm tra listeria monocytogenes theo truyền thống là phương pháp vàng để kiểm tra chỉ tiêu này. Tuy nhiên, để thực hiện chính xác quy trình kiểm theo TCVN cần phải đáp ứng điều kiện về phòng thí nghiệm và cán bộ vi sinh có tay nghề cao vì trong quá trình kiểm tra phải thao tác nhiều bước như tăng sinh, nuôi cấy, khẳng định sinh hóa, ... . 

    Sơ đồ quy trình  theo Tiêu Chuẩn Quốc Gia _TCVN 7700-1 : 2007_ISO 11290-1 : 1996

    Các phương pháp mới giúp kiểm tra nhanh hơn, thao tác đơn giản hơn và an toàn hơn đang dần thay thế các phương pháp truyền thống do những ưu điểm của nó. Hãng 3M- Mỹ một trong những thương hiệu tiên phong trong việc ứng dụng những công nghệ tiên tiến vào việc kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm, đã nghiên cứu thành công hệ thống kiểm tra nhanh các vi sinh vật gây bệnh như Salmonella, Listeria spp, Listeria monocytogenes, E. coli O157, Campylobacter , Cronobacter  và độ tố STEC - 3M Molecular Detection System trong nhiều loại thực phẩm và môi trường. 

     

    Nguyên lý của 3M Molecular Detection System dựa vào công nghệ LAMP là sự kết hợp giữa khuếch đại phân tử DNA đẳng nhiệt và phát quang sinh học cho kết quả nhanh nhất 24-27 giờ.

    Quy trình thực hiện 3 bước đơn giản

     
     
     
  • ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG, CÁC YẾU TỐ STRESS TỪ MÔI TRƯỜNG VÀ SỰ TIẾP NHẬN ÁNH SÁNG CỦA CÂY TRỒNG
  • Trên cánh đồng với CID Bio-Science & Felix Instruments 

    Bản tin hàng tháng về các bài báo nghiên cứu đã xuất bản 

    Công cụ đo lường CID Bio-Science và Felix Instruments. 

     


     Ước tính nồng độ dinh dưỡng của lá từ phản xạ viễn thám siêu phổ ở cây bạch đàn sử dụng phân tích hồi quy từng phần vuông nhỏ nhất 

    Sử dụng độ phản xạ viễn thám siêu phổ của lá được thu thập bởi Máy quang phổ lá thu nhỏ CI-710, Oliveira et al. Năm 2020, việc ước tính nồng độ dinh dưỡng trong lá trong Bạch đàn được kiểm tra hiệu quả bằng nhiều phương pháp khác nhau. Trong hai nghiên cứu này ở Brazil, dữ liệu quang phổ của lá được thu thập ngay sau khi hái lá của ba chủng nhân giống vô tính trong nghiên cứu thứ 1 và từ một dòng thương mại trong nghiên cứu 2. Sau đó, lá được phân loại thành năm nhóm màu theo biểu đồ Munsell. Các dự đoán chính xác thu được đối với các mức nitơ, phốt pho, mangan, boron và lưu huỳnh từ phân tích đạo hàm lần thứ 1 của hồi quy bình phương nhỏ nhất một phần và mức kẽm theo đạo hàm lần thứ hai. Nồng độ kali, đồng và canxi được dự đoán tốt hơn từ sự biến đổi logarit và nồng độ sắt bằng phản xạ độ mịn.   

    Click here to read the full paper | CI-710s SpectraVue Leaf Spectrometer Image courtesy of Kimberly Reinhart.

     

     

    Đánh giá nông học và sinh lý học của tám dòng sắn (khoai mì) trong điều kiện thiếu nước

     Trong nỗ lực xác định kiểu gen và chế độ tưới tiêu có thể cải thiện năng suất sắn (khoai mì), Pacheco et al. 2020, đã nghiên cứu một số cơ chế sinh lý bằng Hệ thống quang hợp cầm tay CI-340, cũng như các đặc điểm nông học. Trong một thí nghiệm phân mẫu, tám dòng vô tính được thử nghiệm ở ba mức tưới (7, 15 và 21 ngày không tưới, DWI). Cây sắn dưới 21 DWI cho thấy khả năng sinh trưởng, nở lá và mở khí khổng giảm, mặc dù tốc độ quang hợp và tích lũy sinh khối vẫn không bị ảnh hưởng, chứng tỏ khả năng chịu hạn của cây trồng này. Dưới 15 DWI,  cây sắn cải thiện sự trao đổi khí và tăng trưởng sinh dưỡng. Các dòng vô tính hoạt động tốt nhất trong điều kiện khô hạn như sau: Guajira, Guajira 3, Guajira 4, Concha Rosada và MeVen 77-1. 

    Click here to read the full paper | CI-340 Handheld Photosynthesis System Image courtesy of Steve Long.

     


     Minirhizotron như một công cụ tại chỗ để đánh giá sự phát triển và phân phối của hệ thống rễ mía 

    Minirhizotron có thể cung cấp thông tin quan trọng về hiệu quả sử dụng nước và chất dinh dưỡng của rễ trong suốt chu kỳ cây trồng. Ohashi và cộng sự. 2019, đã thử nghiệm các phương pháp sử dụng minirhizotron khác nhau cho mía, bằng cách theo dõi sự phát triển và phân bố của rễ ở các khu vực được tưới và có mưa. Các nhà khoa học đề xuất các cách để cải thiện phương pháp minirhizotron, thử nghiệm với CI-600 In-Situ Root Imager. Các khuyến nghị bao gồm góc lắp đặt ống, bảo vệ ống trên mặt đất, tần số quét và phân tích dữ liệu để thu được dữ liệu chất lượng cao.  

    Click here to read the full paper | CI-600 In-Situ Root Imager Image courtesy of world water week.

     

    Tác động của sự xâm nhập của ánh sáng vào tán lá và tính thời vụ đối với các chỉ số quang hợp ở cây táo 

    Ở Lithuania, Laužikė et al. Năm 2020, nghiên cứu ảnh hưởng của độ xuyên sáng ở hai chiều cao tán, khoảng cách giữa các cây (hàng cách hàng 0,25 m đến 1 m) và mùa vụ, đến tỷ lệ quang hợp của giống táo ghép “Auksis”. Nghiên cứu đã phát hiện ra mối tương quan chặt chẽ giữa chỉ số phản xạ quang hóa (đo bằng Máy quang phổ lá thu nhỏ CI-710) và chỉ số phản xạ tuổi già của cây ở cả hai cấp độ tán. Việc giảm khoảng cách giữa các cây táo từ 1 m xuống 0,5 m dẫn đến tăng diện tích lá cụ thể và chỉ số phản xạ quang hóa, và giảm chỉ số phản xạ tuổi già của cây. Khi các mùa trôi qua, trọng lượng tươi và khô của lá tăng 5% vì vào mùa thu lá tích lũy nhiều chất khô hơn để chuẩn bị cho mùa đông. Ngoài ra, do độ xuyên sáng thấp hơn, mùa thu mang lại chỉ số phản xạ quang hóa thấp hơn, nhưng phản xạ tuổi già của thực vật cao hơn. 

    Click here to read the full paper | CI-710s SpectraVue Leaf Spectrometer Image courtesy of fotologic.

     



    Vết thương và ánh sáng UVB hợp lực tạo ra quá trình sinh tổng hợp các hợp chất phenolic và axit ascorbic trong Lê gai đỏ (Opuntia ficus-indica cv. Rojo Vigor) 

    Nair et. vào năm 2019, đã tìm cách kiểm tra sự gia tăng sản xuất nutraceuticals mong muốn trong quả opuntia bằng cách sử dụng bức xạ tia cực tím B (UVB) trong 15 phút, riêng biệt và kết hợp. Trái cây được xử lý bằng tia UVB cho thấy sự gia tăng từ 186,2-709,8% các hợp chất phenolic như quercetin, axit sinapic, kaempferol, axit rosmarinic và sinapoyl malate trong vỏ và cùi, do sự gia tăng phenylalanine amoniac-lyase (PAL ) Hoạt động. Trong khi sự gia tăng hoạt động của l-galactono-γ-lactone dehydrogenase (GalLDH) dẫn đến sinh tổng hợp axit ascorbic nhiều hơn do UVB, được thúc đẩy hơn nữa bằng cách làm vết thương. Hô hấp tăng do vết thương, trong khi ethylene tăng do sự kết hợp của vết thương và UVB. Vết thương hỗ trợ hoạt động của UVB bằng cách cho phép nó xâm nhập vào tủy răng. Các phép phân tích tốc độ hô hấp và ethylene thu được bằng Máy phân tích 3 khí F-940 của Felix Instruments Applied Food Science.  

    Click here to read the full paper | F-950 Three Gas Analyzer Image courtesy of Pikist.

  • TƯ VẤN VÀ THIẾT LẬP THÀNH CÔNG PHÒNG LAB ĐẠT CHUẨN ISO 17025
  •    Việt Nam đang ngày càng hội nhập vào thương mại thế giới. Công nhận phòng thí nghiệm hiện nay không còn là vấn đề của mỗi quốc gia mà nó đã trở thành vấn đề mang tính khu vực và toàn cầu, nhất là trong giao lưu thương mại hiện nay với xu thế phát triển theo hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa, cơ sở giao lưu thương mại hầu hết đều dựa vào chứng thư kết quả thử nghiệm.

     

    Tầm quan trọng của phòng LAB đạt chuẩn ISO 17025 

    Tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 được coi là chuẩn quốc tế để chứng nhận khả năng của các phòng thí nghiệm và hiệu chuẩn vốn có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại, phát triển nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm và là công cụ trong việc bảo vệ khách hàng, tạo ra sự tin cậy cho các doanh nghiệp.

           

    Phòng thí nghiệm - Hình minh họa

    Việc xây dựng thực hiện và áp dụng hệ thống quản lý năng lực phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn theo ISO/ IEC 17025: 2017 sẽ giúp cho tổ chức, doanh nghiệp và đơn vị cung cấp dịch vụ  công bố mức độ đáng tin cậy và chính xác đối với từng phép đo lường thử nghiệm nghiệm. Trên cơ sở đó để tính toán đưa ra hàng loạt các quyết định nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan trong phạm vi của dữ liệu đo lường đó như: phân tích đánh giá năng lực quá trình sản xuất, theo õi xu hướng các quá trình, đánh giá chất lượng sản phẩm và mức độ an toàn, cải tiến và giải quyết những vấn đề trong hệ thống quản lý. 

     

    Công ty Trung Hải chuyên tư vấn và thiết lập phòng LAB đạt chuẩn ISO 17025

    Được thành lập vào năm 2007, Công ty TNHH Thiết bị KHKT Trung Hải có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực cung cấp các giải pháp nhanh, trọn gói, tư vấn cũng cấp và lắp đặt, bảo hành, bảo trì cho tất cả các trang thiết bị khoa học kỹ thuật,.. phục vụ trong công tác nghiên cứu khoa học, kiểm tra và quản lý chất lượng của sản phẩm,... của các  Viên nghiên cứu, các Trường Đại học, Cao đẳng, phòng thí nghiệm của các Công ty sản xuất trong và ngoài nước đạt chuẩn ISO 17025. Đặc biệt, tất các giải pháp Trung Hải mang đến cho khách hàng trong mọi lĩnh vực đều nhanh và chính xác. Tiết kiệm thời gian và chi phí. Các giải phảp mà Trung Hải mang đến là tinh hoa công nghệ của những Nhà cung cấp nổi tiếng trên thế giới như 3M- Mỹ, Randox - Anh, Immunolab - Đức, ....trên các lĩnh vực như vi sinh, kháng sinh, độc tố nấm mốc, .... .

    Với kinh nghiệm lâu năm cùng đội ngũ nhân viên trẻ, nhiệt huyết, được đào tạo bài bản định kì hàng năm với các đối tác nước ngoài, cộng với phương châm làm việc của Trung Hải: hợp tác, học hỏi, trách nhiệm và đam mê trong công việc,… Trung Hải cam kết mang đến cho khách hàng những dịch vụ chuyên nghiệp nhất trong việc tư vấn, cũng cấp và chuyển giao công nghệ, thiết bị hay phương pháp đều với hàm lượng kĩ thuật cao. Đồng thời, mang đến sự hài lòng, tin tưởng và gắn bó lâu dài cho khách hàng.

     

    Trung Hải tư vấn và thiết lập thành công phòng LAB đạt chuẩn ISO 17025 tại công ty Thủy sản Sóc Trăng

    Mới đây, Trung Hải đã tư vấn và thiết lập thành công phòng LAB đạt chuẩn ISO 17025 cho một Công ty Thủy sản ở Sóc Trăng. 

    Vi sinh là một trong những chỉ tiêu phổ biến và quan trọng nhất bắt buộc yêu cầu kiểm nghiệm trong ngành thực phẩm nói chung và thủy sản nói riêng. Trong thời buổi cần kết quả nhanh và chính xác thì phương pháp kiểm vi sinh nhanh được ưu chuộng hơn cả. Do đó, Trung Hải đã tư vấn và thiết lập hệ thống kiểm nghiệm theo phương pháp nhanh 3M - Petrifilm cho phòng lab vi sinh. Đối với phương pháp Petrifilm thì những thiết bị máy móc chỉ yêu cầu nhỏ gọn do thiết kế đĩa phim dạng đông khô ép mỏng, môi trường sẵn có vì vậy có thể tiết kiệm được không gian chứa khoảng 80% so với phương pháp truyền thống. Bên cạnh đó việc cho kết quả nhanh hơn 50% là một lợi thế để xuất hàng nhanh hơn, giải phóng kho bãi của bạn. Các chỉ tiêu vi sinh của Petrifilm 3M: Tổng khuẩn hiếu khíE.coli/Coliforms, Enterobacteriaceae, StaphylococcusSalmonella, Listeria, nấm men, nấm mốc,... .

           

     Phòng lab vi sinh 

    Bên cạnh đó, phòng lab được trang bị Hệ thống MDS Molecular Detection System 3M kiểm tra nhanh những vi sinh vật gây bệnh Salmonella, Listeria, L.Monocytogen, E.coli O157, Campylobacter,  ... trong vòng 24-26 h. Đây là hệ thống tiên tiến theo công nghê LAMP giúp quy trình được rút ngắn, cho kết quả vào ngày hôm sau và tiêt kiệm chi phí.

     

    Hệ thống kiểm nhanh vi sinh vật gây bệnh MDS 3M

    Ngoài ra, yêu cầu nhanh về kháng sinh cũng không kém phần quan trọng. Chỉ tiêu kháng sinh là chỉ tiêu đánh giá chất lượng của sản phẩm và quyết định đến việc xuất khẩu ra nước ngoài, đặc biệt là các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Canada, .... .

       

    Phòng phân tích hóa

    Với gần 40 năm trong lĩnh vực cung cấp test kit, máy máy kiêm nghiệm, Randox- Anh đang dần khẳng định thương hiệu bằng cách cung cấp các giải pháp tối ưu toàn diện về về thời gian, tính chính xác và giá thành, trong đó, có thể kể đến Kit Elisa kiểm dư lượng kháng sinh. Vì vậy, Trung Hải đã đưa sản phẩm này thiết lập vào nhà máy. Với ưu điểm đơn giản trong quá trình, độ nhạy và độ đặc hiệu cao, độ thu hồi tốt từ 80-120%, Kit Elisa Randox luôn đảm bảo mang lại kết quả chính xác nhất đáp ứng được việc xuất hàng thuận lợi cho các nhà máy thủy sản. Randox có sản phẩm đa dạng, đáp ứng hầu hết các chỉ tiêu yêu cầu trong ngành thủy sản nói riêng và sản xuất nói chung như: Chloramphenycol, Enro/ciprofloxacine, Nitrofuran, oxytetracycline, doxycycline, tetracycline, sulphadiazine, sulphamethazine, sulphamethoxazol, quinolones, flumequine, ....

     

    Kit Elisa Randox

    *Trung Hải cam kết dịch vụ đối với khách hàng: cung cấp hợp đồng trọn gói, giúp khách hàng yên tâm khi đầu tư, cam kết sản phẩm dịch vụ chất lượng ổn định, hiệu quả cao; hỗ trợ đào tạo ứng dụng cho nhân viên phòng thí nghiệm đến khi thành thạo, cung cấp hợp đồng bảo trì lâu dài, đảm bảo thiết bị vận hành liên tục và lâu bền,… 
  • Botulinum – chất độc khét tiếng số 1 thế giới, độc tố của vi khuẩn
  • Theo thông báo của cục an toàn thực phẩm, từ 13/7 đến 18/8, đã có 9 người được xác định bị ngộ độc do thực phẩm nhiễm vi khuẩn Clostridium botulinum.

    Tổng cộng đã có 9 ca bệnh phải điều trị tại các bệnh viện, trong đó, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) tiếp nhận 2 ca, tại Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM) 5 ca và Bệnh viện Nhiệt đới TP.HCM 2 ca.

           

    Qua điều tra cho thấy các bệnh nhân đều sử dụng sản phẩm Pate Minh Chay và kết quả kiểm nghiệm ban đầu một số sản phẩm của các lô khác nhau đã phát hiện vi khuẩn Clostridium botulinum type B. Đây là một loại ngộ độc thực phẩm hiếm gặp nhưng RẤT NGUY HIỂM nên mọi người cần cảnh giác.

    Botulinum là chất độc thần kinh cực mạnh, nhưng có thể bị nhiệt phân hủy

    Botulinum là chất độc thần kinh cực mạnh, nó xâm nhập vào các tế bào thần kinh, rồi ngăn chặn sự giải phóng chất dẫn truyền acetylcholine từ các đầu dây thần kinh. Một khi chất dẫn truyền thần kinh này bị chặn, xung thần kinh không thể truyền dẫn được nữa, giao tiếp các tế bào thần kinh không được thực hiện, làm cho các cơ bị tê liệt.

    Độc tố botulinum có 7 loại, kí hiệu bằng các chữ cái theo thứ tự từ A đến G, riêng loại C gồm hai loại phụ, như vậy tổng cộng có 8 chất độc tất cả. Nhiễm độc ở người loại A và B là phổ biến nhất, sau đó đến loại E và F, 4 loại còn lại ít gặp hơn.

    Độc ác như vậy, nhưng botulinum không chịu được nhiệt, nếu đun ở 100⁰C, sau 2 phút chất độc bắt đầu biến tính và giảm độc lực, đun đến 10 phút có thể bị phá hủy. Đây là điều may mắn, bởi thực phẩm đun sôi nhiệt độ xấp xỉ 100⁰C, nên đồ ăn tươi nấu chín về cơ bản là yên tâm.

    Nhưng với thực phẩm chế biến sẵn, dù đã đung nóng ở nơi sản xuất, thì vẫn còn công đoạn vận chuyển và lưu thông, nó được bảo quản trong vài ngày đến vài tháng, người sử dụng sẽ ăn ngay chứ không đun sôi lại, vì thế mà khó đảm bảo an toàn. Để tránh bị độc tố botulinum gây hại, từ lâu các nhà sản xuất đã tìm ra phương pháp bổ sung Nitrit rất hay, đây là chất đặc biệt hiệu quả trong việc ức chế độc tố botulinum.

    Mặc dù Nitrit cũng độc, nhưng với liều lượng nhỏ vẫn chấp nhận được, nó sẽ tổng hợp thành nitrosamine trong thịt. Tất cả các nước trên thế giới đều cho phép bổ sung Nitrit vào các sản phẩm thịt đã qua chế biến. Bạn có tin hay không, chỉ cần nhìn vào nhãn của các sản phẩm như xúc xích và giăm bông, bạn sẽ luôn thấy từ “Natri Nitrit” trong danh sách thành phần, đó chính là chất bảo quản chống ngộ độ botulinum.

    “Nitrit nếu không được quản lí nghiêm ngặt, nó rất dễ xảy ra tai nạn vượt tiêu chuẩn, thậm chí ngộ độc cấp, về lâu dài là ung thư. Bởi vậy, cơ quan chức năng phải luôn cảnh giác với chất này, người tiêu dùng chúng ta cũng hạn chế sử dụng các thức ăn chế biến sẵn”.

    Vi khuẩn clostridium botulinum tồn tại rộng rãi trong đời sống

    Đây là trực khuẩn khá huyền thoại, bởi chúng có khả năng biến hình, ở điều kiện khắc nghiệt chúng biến thành nha bào vô cùng chắc chắn.

    Vi khuẩn clostridium botulinum thực sự không phải là sinh vật hiếm, mà ngược lại, nó tồn tại rất rộng rãi trong tự nhiên, có thể tìm thấy trong đất và phân. Nước ao, nước sông hồ, thậm chí trong các hạt bụi bẩn, ở động vật đều có thể tìm thấy vi khuẩn.

    Loại vi khuẩn này rất sợ axit và nhiệt, nhưng điểm yếu lớn nhất của nó là kị khí, vi khuẩn sẽ không phát triển mạnh ở những nơi có thông gió tốt, đặc biệt là môi trường đủ oxy vi khuẩn không thể hoạt động, ngược lại càng thiếu không khí và Oxy nó cảng sinh sôi nảy nở mạnh.

       

    Các đặc điểm của vi khuẩn này:

     Ở nhiệt độ 25 – 42℃, clostrium botulinum phát triển cực tốt, nó tạo ra một lượng rất lớn độc tố.

    – Môi trường pH thuận lợi từ 4,6 – 9,0.

    – Ngoài khoảng nhiệt độ trên, vi khuẩn khá nhạy cảm nên rất khó để hoạt động, ở điều kiện 55 ℃ clostrium botulinum không thể phát triển và sinh độc tố nữa, nên nó biến thành nha bào có vỏ rất dày để chống đỡ lại các tác nhân bên ngoài.

    – Nha bào của clostridium botulinum “cứng đầu” hơn nhiều so với nha bào của các vi khuẩn thông thường: 100℃ nha bào bị diệt sau 6 giờ; 121°C nha bào bị diệt trong hơn 30 phút; 180°C nha bào bị diệt trong 5 – 15 phút.

    Với đặc tính vi khuẩn sợ không khí, sợ nhiệt, sợ axit và kiềm; đó là những điều may mắn giúp chúng ta bảo quản và sử dụng thực phẩm đúng cách, chống lại clostrium botulinum. Nhưng đừng bao giờ quên vi khuẩn có thể tạo ra một thứ gọi là “nha bào”.

    Một khi vi khuẩn trở thành trạng thái nha bào thì nó rất khó bị giết chết, không sợ đun ở nhiệt độ 100 độ, ít nhất nó phải đun ở 121 độ trong hơn 30 phút để loại bỏ các nha bào. Nếu chỉ đun nấu trong vài phút thì gần như không thể tiêu diệt nha bào.

    Các triệu chứng khi nhiễm độc do vi khuẩn clostridium botulinum

    Biểu hiện ngộ độc xuất hiện sau bữa ăn từ 12 – 36 giờ, nhưng cũng có thể kéo dài tới vài ngày, thậm chí là 4 ngày. Thời gian ủ bệnh càng ngắn, độc tố càng nhiều, bệnh càng nặng và nguy cơ tử vong càng cao.

    Các triệu chứng ban đầu khi khởi phát bao gồm mệt mỏi, chóng mặt, chán ăn, tiêu chảy, đau bụng, nôn mửa và các triệu chứng viêm dạ dày ruột khác, nhưng lượng độc tố ít thì triệu chứng sẽ biến mất trong vài giờ.

    Độc tố của vi khuẩn tiếp tục xâm nhập vào các dây thần kinh sọ ngoại biên. Biểu hiện rõ nhất là tổn thương liên quan đến mắt (nhìn mờ, nhìn đôi, sụp mí, giãn đồng tử, không phản xạ ánh sáng). Biểu hiện các cơ hàm mặt (liệt mặt, rối loạn tiết nước bọt, khô miệng, khó nuốt, nói khó, nói khàn, rối loạn ngôn ngữ).

    Nặng hơn nữa, các triệu chứng liên quan yếu và liệt các cơ từ thân trên xuống thân dưới. Đầu tiên là không nhấc đầu lên được. Sau đó không đứng hay ngồi dậy được. Nặng lên có biểu hiện liệt toàn thân, với trương lực cơ toàn thân giảm, tắc ruột cơ năng. Giai đoạn cuối là khó thở, rối loạn nhịp thở, tử vong ở giai đoạn này từ 30-60% do suy hô hấp.

    Bệnh nhân tử vong do ngộ độc botulinum có điểm rất đặc biệt, là không cần vuốt mắt, bởi trước lúc chết mắt nhắm tịt do liệt cơ, nhưng đầu óc lại hoàn toàn tỉnh táo và nhận biết được hết những gì đang diễn ra xung quanh.


     Hậu quả của việc nhiễm khuẩn không chỉ clostridium botulinum mà các vi khuẩn gây bệnh khác như listeria, salmonella, ... cũng là những mối nguy cần được quan tâm. Các cơ sơ sản xuất nhỏ lẻ, chỉ kiểm tra định kỳ cũng gây nên những mối nguy về ngộ độc thực phẩm. Vì vậy, việc gia tăng tần suất kiểm soát là việc vô cùng cần thiết. 

  • SỰ PHÁT TRIỂN VÀ HIỆN TRẠNG CỦA VIỆC ĐO LƯỜNG BỰC XẠ HOẠT ĐỘNG QUANG HỢP
  •  Bức xạ quang hợp hoạt động trong nghiên cứu thực vật (PAR)


    Đo bức xạ hoạt động quang hợp 

    • Bức xạ hoạt động quang hợp (PAR) đã được kiểm soát trong nhiều năm như một yếu tố đầu vào quan trọng cho quá trình quang hợp, tăng trưởng thực vật và năng suất cây trồng.
    • Trong thời gian gần đây, với sự tiến bộ của công nghệ sản xuất và đo lường ánh sáng LED, người ta hiểu rằng việc mở rộng phép đo PAR vào phạm vi ánh sáng Đỏ và cận trên Đỏ có thể giải thích nhiều về chiều cao của cây, quá trình phát triển của lá và hình thái của cây.
    • Điều này có thể được sử dụng để tạo lợi thế lớn với các hệ thống sản xuất và kiểm soát môi trường trong nhà kính   

    Quang sinh học được đơn giản hóa với Dr Bruce Bugbee 

     

    Tiến sĩ Bruce Bugbee của Apogee giải thích một cách đơn giản rằng các màu sắc khác nhau của ánh sáng có thể có tác động mạnh mẽ đến quá trình quang hợp và hình thái của thực vật như thế nào. Phòng thí nghiệm của Tiến sĩ Bugbee tại Đại học Bang Utah đi đầu trong nghiên cứu này cho NASA và nhiều công ty và tổ chức khác.

    2:30 Hình dạng thực vật

    3:26 Sự khác biệt giữa các màu LED

    5:22 Hiệu ứng của ánh sáng cận đỏ

    6:00 Màu sắc ảnh hưởng đến hình dạng thực vật

    7:21 Còn cần sa thì sao?


    CÁC CẢM BIẾN ĐO BỨC XẠ QUANG HỢP CỦA APOGEE

    Đo lượng tử gốc SQ-100 ( bước sóng 410 - 655nm)

    Các cảm biến Lượng tử ban đầu của Apogee đã cắt các phép đo ở bước sóng 655nm và do đó không đo bức xạ lên đến 700nm và không đo được ánh sáng LED Đỏ đậm. Được khuyến nghị sử dụng để tập trung các phép đo PAR trong phần màu xanh lá cây của ánh sáng nhìn thấy.  


    Dòng lượng tử toàn phổ SQ-500 (389 - 692nm)

    Cảm biến lượng tử toàn phổ của Apogee có thể đo chính xác đèn LED màu đỏ đậm. Phạm vi cảm biến lượng tử dòng SQ-500 được thiết kế để đo PAR liên tục trong cả môi trường trong nhà và ngoài trời. http://www.ictinternational.com/products/apogee-full-spectrum-quantum-par-sensors/apogee-full-spectrum-quantum-par-sq-500-series/?from=/products/plants/light-sensors-par/    Phạm vi mở rộng PAR Quantum SQ-620 (340-1040nm)Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng bức xạ nằm ngoài phạm vi bức xạ hoạt động quang hợp tiêu chuẩn (PAR) (400-700nm) có thể có những tác động đáng kể đến sự phát triển, hình thái và các hợp chất thứ cấp của thực vật.Cảm biến PAR phạm vi mở rộng mới của Apogee nhạy cảm với ánh sáng ngoài vùng PAR, ghi lại các phần của quang phổ UV cũng như bức xạ Far-Red. Vì đầu cảm biến nhạy cảm với bức xạ có bước sóng lên đến 1100nm, nằm ngoài phạm vi bước sóng ảnh hưởng đến thực vật, Apogee khuyến nghị chỉ sử dụng cảm biến Phạm vi mở rộng trong môi trường trồng trọt trong nhà sử dụng đèn LED http://www.ictinternational.com/products/apogee-extended-quantum-par/apogee-extended-quantum-par/?from=/products/plants/light-sensors-par/   Lượng tủ Red Far-Red S2 Series (Red 645-665nm; Far-Red 720-740nm)Cảm biến dòng S2 Red / Far-Red của Apogee là cảm biến kỹ thuật số hai kênh.Tán cây hấp thụ có chọn lọc bước sóng Đỏ đậm (khoảng 660nm) nhiều hơn bước sóng Đỏ (khoảng 730nm) dẫn đến giảm tỷ lệ ánh sáng Đỏ: Ánh sáng cận Đỏ về phía gốc tán, những thay đổi về chất lượng ánh sáng như vậy dẫn đến sự thay đổi quang hình trong quá trình sinh trưởng của thực vật. Trong các hệ thống sản xuất nông nghiệp, sự hiểu biết về những phản ứng này là trọng tâm để tối ưu hóa mật độ trồng và quản lý tán lá. http://www.ictinternational.com/products/apogee-s2-series-red-far-red-sensor/apogee-s2-series-red-far-red-sensor/?from=/products/plants/light-sensors-red/   

    SNiPs (Sensor Node IoT Packages) Sử dụng Apogee Sensors

    ICT International có sẵn một loạt các gói IoT để kết nối với các cảm biến Apogee và gửi dữ liệu qua CATM1 hoặc LoRaWAN tới đám mây để theo dõi và kiểm soát thời gian thực đối với các hệ thống sản xuất nhà kính và nghiên cứu chặn ánh sáng trên đồng ruộng.

     

     

     

     

    SNiP-CLI cho môi trường trường ngoài trời

     SNiP-RFR cho môi trường được kiểm soát

       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


     

  • GEN CHUYỂN 2MEPSPS TRÊN ĐẬU TƯƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM
  •  

    Sự hình thành gen chuyển 2mpsps 

    Đậu tương mang sự kiện chuyển gen FG72 mang hai gen hppdPfW336 và 2mepsps, khi biểu hiện trong cây trồng, sản sinh ra hai protein là HPPD W336 (4- hydroxyl phenyl-pyruvate-dioxygenase) và 2mEPSPS (5-enolpyruvyl-shikimate-3- phosphate synthase). Việc biểu hiện 2 protein HPPD W336 và 2mEPSPS tương ứng tạo ra khả năng chống chịu với thuốc trừ cỏ isoxaflutole và glyphosate cho cây đậu tương mang sự kiện chuyển gen này.

    Gen 2mepsps và hppdPfW336 được đưa vào bộ gen đậu tương dưới dạng một cấu trúc gen đơn bằng phương pháp chuyển gen trực tiếp. Các trình tự điều hòa được sử dụng trong cấu trúc gen này có nguồn gốc từ các cây trồng thông thường hay từ nguồn vi sinh vật bệnh cây đã và đang được sử dụng một cách an toàn nhiều trong công nghệ sinh học thực vật nhiều năm nay. Trình tự khung và các gen kháng kháng sinh từ vector mang đoạn chuyển không tồn tại trong đậu tương mang sự kiện FG72.

    Nguồn gốc của protein 2mEPSPS là ngô, vốn loại cây an toàn được sử dụng rộng rãi làm thực phẩm hay thức ăn chăn nuôi. Protein EPSPS có mặt rộng rãi trong tự nhiên, biểu hiện trong nhiều loại cây thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Gen 2mepsps được tạo ra bằng việc đưa đột biến vào gen gốc epsps của ngô (wt epsps), do vậy protein EPSPS bị thay đổi so với protein tự nhiên ở 2 axit amin (do vậy gọi là 2mEPSPS). Sự biến đổi này giúp giảm hoạt lực liên kết của protein với glyphosate, cho phép protein này duy trì hoạt tính enzyme khi có mặt của thuốc trừ cỏ. Protein 2mEPSPS không có sự tương đồng về trình tự axit amin với các chất gây dị ứng đã biết và nó bị phân giải nhanh trong dịch giả dạ dày và dịch giả ruột người. Protein 2mEPSPS cũng không có sự tương đồng trình tự axit amin với các chất gây độc đã biết và không thể hiện bất kỳ tác động nào trong nghiên cứu độ độc cấp tính trên chuột.

    Phương pháp kiểm tra nhanh gen chuyển 2mpsps

    Chưa có công bố nào về việc sử dụng sản phẩm từ cây trồng mang gen chuyển ảnh hưởng đến sức khỏe của động vật hay con người, nhưng việc sử dụng nguồn sản phẩm này vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Vì vậy, việc sản xuất sản có hay không mang gen chuyển phải được công bố rõ ràng theo các điều luật. 

    Hiện nay, hãng Agdia - USA đã thương mại hóa test nhanh ImmunoStrip® kiểm gen chuyển 2mEPSPS trên đậu nành. Protein 2mEPSPS được tìm thấy trong các giống đậu tương Enlist E3 & GT27 và đang được cấp phép sử dụng nên việc gia tăng số lượng giống biến đổi có thể chống 

    Agdia ImmunoStrip® cho 2mEPSPS này được thiết kế và xác nhận để phát hiện sự hiện diện hoặc vắng mặt của protein 2mEPSPS trong hạt và lá đơn và hoặc hỗn hợp số lượng lớn. Agdia 2mEPSPS ImmunoStrip® được xác nhận để thử nghiệm đậu tương biến đổi gen với giới hạn phát hiện là 1 lần trên 200 hạt (0,5%).
    Những dải này thường được sử dụng bởi các nhà nhân giống cây trồng, trường đại học và phòng thí nghiệm tư nhân muốn có kết quả nhanh, rõ ràng.


    Mã hàng: STX 64100/0050

    Cung cấp bao gồm:

    • ImmunoStrips®; 50 que/bộ
    • Không bao gồm bộ đệm mẫu SEB4, xem các sản phẩm liên quan
    • Hướng dẫn sử dụng
  • ĐỘC TỐ ERGOT ALKALOIDS VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM
  •  

     

    Độc tố Alcaloid ergot 

    Các alcaloid ergot được sản xuất bởi một nhóm nấm được gọi là loài Claviceps, đáng kể nhất là C. purpurea. Những loại nấm này lây nhiễm vào đầu hạt của cây trong thời kỳ ra hoa và tạo ra một cơ thể trú đông. Loại nấm này thay thế hạt hoặc hạt đang phát triển bằng cơ thể trú đông bằng kiềm, được gọi là ergot, cơ thể ergot hoặc hạnh nấm.

     

    Hạnh nấm được thu hoạch cùng với ngũ cốc hoặc cỏ và nếu không được loại bỏ trước khi chế biến, có thể dẫn đến ô nhiễm thực phẩm và thức ăn làm từ ngũ cốc bởi các alcaloid ergot.

     

     

     Ergot Alkaloid được phát hiện trên chủ yếu trên lúa mì, lây nhiềm trên thức ăn chăn nuôi và các loại bánh

    Thức ăn bị ô nhiễm với mức độ độc hại của ergot alkaloids đã được tìm thấy ảnh hưởng đến chu kỳ sinh sản của lợn, gia cầm và gia súc, khiến động vật không thể mang thai. Chúng cũng đã được chứng minh là có tác động đến hệ thống tiêu hóa, dẫn đến việc tăng cân trong sản xuất thịt.

     

    Phương pháp kiểm tra độc tố Alcaloid ergot 


    Kit ELISA Ergot Alkaloids của Randox Food Diagnostics được xác nhận theo Quy định của Commission Regulation (EC) số 519/2014 là phương pháp sàng lọc bán định lượng chỉ tiêu Ergotamine đối với thức ăn nghiền lúa mì, lúa mì và lúa mạch đen.

     
    Bộ Kit được đánh giá thành công theo phương pháp phù hợp với mục đích theo Quy định của Commission Regulation (EC) số 401/2006 như là phương pháp phân tích được phê duyệt. Và được đánh giá thành công theo phương pháp phù hợp với mục đích theo Quy định của Ủy ban (EC) số 519/2014 đối với phương pháp xác nhận là phương pháp được phê duyệt để kiểm soát chính thức.

     


    Kit ELISA Ergot Alkaloids của Randox Food Diagnostics đã được bên thứ ba đánh giá để cho phép phân biệt giữa các mẫu âm tính và dương tính. Randox ELISA hiển thị không có âm tính giả và không có dương tính giả. Trong tất cả các xét nghiệm ELISA có bán trên thị trường, Randox Thực phẩm chẩn đoán thực phẩm Ergox Alkaloids ELISA là xét nghiệm duy nhất cho thấy hiệu quả tốt với cả 3 loại mẫu, bao gồm 11 ma trận và tổng cộng 24 mẫu.

     
    Số sản phẩm: EA3491

    Chỉ tiêuLOD (ppb)Hợp chất
    Ergotamine Cereal based feed - 50ppb
    Wheat milling products - 50ppb
    Rye milling products - 125ppb
    Ergotamine
    Ergosine
    Ergosinine
    Ergocristine
    Ergocristinine
    Ergocryptine
    Ergocryptinine
    Ergocornine
    Ergocorninine
    Ergotaminine
    Ergometrine
    Ergometrinine
    *Each LOD standardised to this compound

     

  • TRỨNG TƯƠI TỪ TRANG TRẠI TỚI BÀN ĂN
  •  

    TRỨNG TƯƠI TỪ TRANG TRẠI TỚI BÀN ĂN

    Trứng thuộc nhóm thực phẩm giàu dinh dưỡng nhất trên trái đất và có thể là một phần trong thực đơn ăn uống lành mạnh. Tuy nhiên, trứng cũng dễ bị hư hỏng như thịt tươi và cá. Trứng tươi nguyên vỏ, sạch vẫn có thể chứa Salmonella Enteritidis, do bị nhiễm vi khuẩn này trong quá trình tạo trứngtrong đường sinh sản của gà trước khi đẻ, loại vi khuẩn có thểgây ngộ độc thực phẩm. Trong khi lượng trứng bị nhiễm khuẩnlà rất nhỏ, vẫn có những trường hợp ngộ độc thực phẩm dovi khuẩn này gây ra trong vài năm gần đây. Để an toàn, trứngphải được xử lý theo cách phù hợp, bảo quản lạnh (chilled) vànên được nấu chín hoàn toàn trước khi ăn.

     

    TRỨNG HÌNH THÀNH TRONG BAO LÂU?

    Từ lúc trứng rụng khỏi buồng trứng đến khi được đẻ ra cần thời gian khoảng 25 giờ. Rồi khoảng 30 phút sau đó, buồng trứng gà mái sẽ rụng trứng kế tiếp. Salmonella nhiễm lên trứng bằng cách nào? Vi khuẩn có thể chỉ trên bề mặt vỏ trứng. Đó là vì trứng thoát khỏi cơ thể gà mái qua cùng với đường thải phân. Vì vậy, theo chuẩn USDA (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ), tất cả trứng phải được vệ sinh và xử lý phù hợp ở nhà máy xử lý trứng trước khi đưa ra thị trường. Vi khuẩn Salmonella Enteritidis trong phân gà cũng có thể nhiễm vào trứng qua lỗ li ti trên vỏ của quả trứng sau khi đẻ. Vi khuẩn cũng có thể hiện diện bên trong quả trứng nguyên vỏ (vỏ không nứt). Sự nhiễm khuẩn có thể diễn ra trong quá trình hình thành vỏ bao bọc lòng đỏ và lòng trắng trứng trong đường sinh sản của gà mái. Salmonella Enteritidis không gây bệnh cho gà mái.

    PHẦN NÀO CỦA TRỨNG CÓ THỂ MANG VI KHUẨN?

    Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng Salmonella Enteritidis có thể hiện diện trong lòng đỏ hoặc lòng trắng trứng. Vì vậy, USDA khuyên mọi người đừng ăn trứng sống hoặc nấu chưa chín hoặc thực phẩm có chứa trứng chưa được làm chín. Chỉ định thế nào trên thùng carton đựng trứng? Tất cả thùng, gói đựng trứng tươi chưa xử lý diệt vi khuẩn Salmonella phải mang câu tuyên bố xử lý phù hợp: “HƯỚNG DẪN XỬ LÝ AN TOÀN”: để tránh mầm bệnh vi khuẩn, nên bảo quản ở nhiệt độ lạnh, nấu chín trứng đến khi lòng đỏ đông đặc và chế biến thực phẩm chứa trứng tươi đến chín hoàn toàn.

     

    GIỚI HẠN Ô NHIỄM VI SINH VẬT TRONG TRỨNG VÀ SẢN PHẨM TRỨNG

    Tiêu chuẩn vi sinh trên trứng gà được công bố trên tại QCVN 8-3:2012/BYT: 

    PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA SALMONELLA TRÊN TRỨNG GÀ TƯƠI

    • Petrifilm kiểm Salmonella 3M

                                          


     

    Quy trình:

    1. Tăng sinh: 25g mẫu + 225 ml dd BPW, ủ 41.5 độ C, 24h.

    2. Tăng sinh chọn lọc (chỉ áp dụng cho nền mẫu có TPC>10.000): hút 0.1 ml cấy chuyển qua ống RV10. Ủ 41.5 độ C, 18-24h.

    3. Cấy phân lập: Cấy ria trên đĩa Petrifilm Salmonella. Ủ 37 độ C, 24h.

    4. Đọc kết quả:

    - Nếu không có khuẩn lạc đặc trưng. Kết luận: ND trong 25 g mẫu.

    - Nếu có khuẩn lạc đặc trưng --> Khẳng định sinh hóa bằng đĩa lồng

    5. Khẳng định: Chọn 5 khuẩn lạc đặc trưng, khoanh tròn và chèn đĩa lồng vào. Ủ 37 độ C 4-5h --> Đọc kết quả. Nếu không có khuẩn lạc đặc trưng thì kết luận: ND trong 25 g mẫu. Nếu có khuẩn lạc đặc trưng thì kết luận Salmonella dương tính giả định trên 25g mẫu.

    • Hệ thống MDS kiểm đồng thời nhiều mẫu Salmonella

     

     

     

    NHỮNG AI GẶP RỦI RO VỚI VIỆC ĂNTRỨNG TƯƠI HOẶC CHƯA CHÍN?

    Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người già, phụ nữ mang thai và những người có hệ miễn dịch kém sẽ đặc biệt dễ bị nhiễm bệnh bởi Salmonella Enteritidis. Người bệnh mạn tính có hệ miễn dịch yếu dễ bị ngộ độc thực phẩm. Đừng ai ăn thực phẩm chứa trứng tươi, bao gồm thực phẩm “lành mạnh” như sữa khuấy với trứng tươi, sốt trộn salad và thực phẩm khác tự làm tại nhà như mayonnaise, kem làm từ trứng chưa nấu chín hoàn toàn. Tuynhiên, trứng nguyên vỏ được khử trùng bằngphương pháp Pasteurized có thể được dùngan toàn mà không cần nấu chín.

    TRỨNG NGUYÊN VỎ CÓ THỂ TIỆT TRÙNG?

    Trứng nguyên vỏ có thể được tiệt trùng bởi một nhà máy xử lý, nếu FDA chấp thuận quá trình xử lý đó diệt được Salmonella. Ngày nay, việc tiệt trùng trứng nguyên vỏ có thể được thực hiện tại một vài cửa hàng bách hóa.Cũng như tất cả trứng, chúng cũng phải được giữ mát để duy trì phẩm chất trứng. Thiết bị tiệt trùng trứng nguyên vỏ không sẵn có cho gia dụng, rất khó tiệt trùng trứng nguyên vỏ tại nhà, nếu không nấu chín.

    BỘT LÒNG TRẮNG TRỨNG CÓ ĐƯỢC TIỆT TRÙNG?

    Bột lòng trắng là lòng trắng trứng sấy khô (albumin thuần). Bột lòng trắng trứng cóthể được hoàn nguyên bằng cách pha bộ vớinước. Lòng trắng trứng hoàn nguyên có thểđánh lên như lòng trắng trứng tươi và dùngan toàn (do đã được tiệt trùng) mà không cầnnấu hoặc nướng. Sản phẩm luôn được bánkèm với nguyên liệu để nướng bánh và trangtrí bánh.

    NHỮNG ĐIỂM CẦN XEM XÉT KHI MUA TRỨNG?

    Luôn mua trứng từ tủ mát. Chọn trứng sạch, vỏ không bị nứt. Không mua trứng quá hạn sử dụng. Tìm xem có dán tem xếp hạng của USDA hay không. Trứng được phân loại theo chuẩn phẩm chất và kích cỡ. Chọn cỡ trứng hữu dụng và kinh tế nhất cho bạn. Làm mát trứng nhanh nhất có thể ngay sau khi mua. Việc phân hạng trứng là bắt buộc?Theo qui định, việc kiểm tra trứng đạt tiêu chuẩn thực phẩm ăn được là bắt buộc, nhưng việc phân hạng trứng theo phẩm chất là tựnguyện. Nếu công ty lựa chọn trứng được phân hạng, họ phải trả phí dịch vụ cho USDA.Tem phân hạng của USDA trên thùng carton có nghĩa là trứng được phân hạng phẩm chất và trọng lượng (kích cỡ) dưới sự giám sát của chuyên gia phân hạng trứng được huấn luyện bởi USDA. Sự phù hợp chuẩn phẩm chất, cấp hạng và trọng lượng trứng được giám sát bởi USDA. Cơ quan chính phủ giám sát sự phù hợp đối nhà đóng gói trứng nào không sử dụng dịch vụ phân hạng của USDA. Những thùng trứng này thường sẽ mang một temnhư loại A (Grade A) của họ mà không dán tem USDA.

    PHÂN HẠNG TRỨNG LÀ GÌ?

    Có ba hạng trứng cho tiêu dùng ở Hoa Kỳ: hạng AA, hạng A và hạng B.Hạng trứng được xác định bởi phẩm chất bên trong của trứng, hình thức của trứng và điều kiện về vỏ trứng. Phân loại cấp hạng phẩm chất trứng có thể khác với phân loạitrọng lượng (kích cỡ). Trứng hạng AA (HoaKỳ) có lòng trắng dày và sánh; lòng đỏ caovà tròn, và thực tế không khiếm khuyết; sạchvà vỏ không vị nứt. Hạng AA và hạng A là tốtnhất cho trứng ốp-la và luộc lòng đào, vì hìnhthức quan trọng. Trứng hạng A, có đặc điểmcủa trứng hạng AA, ngoại trừ lòng trắng sánhmột cách vừa phải. Đây là phẩm chất thườngđược bán ở các cửa hàng nhất.Trứng hạng B (Hoa Kỳ) có lòng trắngmỏng hơn và lòng đỏ có thể rộng và phẳnghơn so với cấp hạng AA và hạng A. Vỏ trứngphải không bị nứt, nhưng có thể có vết bẩnnhe. Loại phẩm chất này hiếm khi được bắtgặp ở của hàng bán lẻ vì chúng thường đượcdùng làm sản phẩm trứng lỏng, trứng đônglạnh hoặc bột trứng. Kích cỡ trứng (size)? Kíchcỡ nói về yêu cầu trọng lượng thuần tối thiểucủa một tá trứng (12 quả). Nó không nói vềkích thước hoặc mức độ lớn của trứng trôngnhư thế nào.Trong khi một vài trứng trong thùng trongcó vẻ to hơn hay nhỏ hơn số còn lại, nó chỉthể hiện tổng trọng lượng thuần của một tátrứng (12 quả), thuộc một trong các cấp hạngsau đây: Ghi ngày đóng thùng Nhà xử lý trứngthường in ngày đặt thù gọi là “mã hạn dùng”trên thùng cho mục đích luân chuyển hay kiểmsoát tồn kho. “Hạn dùng”, “bán trước ngày” và“dùng tốt nhất trước ngày” là các ví dụ về cảnhbáo tới hạn của “mã hạn dùng”.Việc sử dụng “mã hạn dùng” trên tem phânhạng trứng USDA là một lựa chọn; tuy nhiên,nếu chúng được dùng, bắt buộc phải tuântheo những qui định nhất định. Khi “hạn dùng”được sử dụng, nó phải được in rõ định dạngngày / tháng và đứng trước nó là tiền tố thíchhợp “Hạn dùng”, “bán trước” và “ không bánsau thời hạn in ở cuối thùng carton” là nhữngví dụ về hạn sử dụng. “Hạn sử dụng” không thểlâu hơn 30 ngày kể từ ngày trứng được đóngthùng. Một dạng khác của “mã ghi ngày” đượcdùng để chỉ định độ dài tối đa được khuyếncáo người tiêu dùng rằng trứng có thể duy trìphẩm chất khi bảo quản ở điều kiện lý tưởng.Thuật ngữ như “dùng trước” “tốt nhất dùngtrước” chỉ định rằng trứng nên dùng trước khitrứng bị mất phẩm chất. Ghi mã hạn dùng sửdụng những điều kiện này có thể không vượtquá 45 ngày, bao gồm ngày trứng đóng vàothùng carton.

    VÌ SAO TRỨNG PHẢI ĐƯỢC BẢO QUẢN MÁT

    ?Biến động nhiệt độ ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sự an toàn. Điều này liên quan đếnSalmonella, sau khi gà mái đẻ ra, trứng cầnđược thu gom và làm mát sớm nhất trongkhả năng có thể. Sau khi được làm mát, trứngcần được giữ theo nhiệt độ này. Trứng lạnhkhi đưa ra nhiệt độ phòng có thể tươm mồhôi, tạo điều kiện cho vi khuẩn thâm nhậpvào bên trong trứng và gia tăng số lượng vikhuẩn. Trứng bảo quản mát không nên để ởbên ngoài quá 02 giờ.

    CÓ NÊN RỬA TRỨNG?

    Không. Không cần thiết, cũng khôngkhuyến cáo người tiêu dùng việc rửa trứng vàcó thể thực tế làm gia tăng rủi ro lây nhiễm vìnước rửa có thể thấm vào bên trong trứng quanhững lỗ bé li ti trên vỏ trứng vốn được mộtmàn bảo vệ tự nhiên bao phủ bên ngoài bởi gàmái. Chính phủ qui định rằng trứng phân hạngtheo chuẩn USDA được rửa và vệ sinh cẩn thậnchỉ bằng những hỗn hợp đặc biệt đáp ứng quiđịnh cho chế biến thực phẩm của FDA. Tại saotrứng luộc chín mau hư hỏng hơn trứng tươinguyên vỏ? Khi trứng được luộc chín, màn bảovệ tự nhiên bị rửa trôi, làm lộ ra những lỗ hơili ti trên vỏ trứng giúp cho vi khuẩn dễ nhiễmvào. Trứng luộc chín nên được làm mát trongvòng 2 giờ sau khi luộc và sử dụng trong vòngmột tuần.

    BẢO QUẢN AN TOÀN TRONG KHO?

    Tại kho, chọn trứng Loại A hoặc AA có vỏsạch và không bị nứt để bảo quản. Chắc chắnrằng trứng đã được làm mát trong kho bảoquản. Bất kỳ vi khuẩn nào hiện diện trong mộttrứng có thể nhân lên nhanh chóng ở nhiệtđộ phòng. Khi mua sản phẩm trứng hoặc sảnphẩm thay thế trứng, phải xem kỹ bao bì cònđược niêm chắc chắn. Mang trứng từ cửa hàngvề nhà? Mang trứng về nhà và bảo quản ngaylập tức trong tủ lạnh ở nhiệt độ 5°C (40°F) hoặcthấp hơn. Để trứng trong hộp giấy của nó vàđặt ở nơi lạnh nhất trong tủ, không phải ở cửatủ. Dùng trứng bị nứt vỏ có an toàn? Vi khuẩncó thể xâm nhập vào trứng qua vết nứt trên vỏ.Không bao giờ mua trứng bị nứt vỏ. Tuy nhiên,nếu trứng bị nứt trên đường mua từ cửa hàngvề nhà, nên đập vỡ trứng và chứa vào lọ sạch,đóng nắp thật chặt, giữ lạnh và dùng trongvòng 2 ngày. Nếu trứng nứt trong quá trìnhluộc chín, trứng này an toàn. Nhớ rằng tất cảtrứng nên chế biến chín hoàn toàn.

    ĐỐI XỬ VỚI TRỨNG THEO CÁCH AN TOÀN?

    Giữ lạnh, nấu chín và đối xử phù hợp sẽ lànhững cách hay nhất tránh những vấn đề vềan toàn. Người ta có thể thưởng thức trứng vàcác món chứa trứng nếu thực hiện theo hướngdẫn an toàn sau đây:- Rửa sạch vật dụng, thiết bị và khu vựclàm việc bằng nước xà phòng nóng trước vàsau khi tiếp xúc với trứng.- Không giữ trứng bên ngoài môi trườnglạnh lâu quá 2 giờ.- Trứng tươi và nguyên liệu khác, kết hợptùy công thức, nên được nấu ngay hoặc trữlạnh và nấu trong vòng 24 giờ.- Luôn luộc trứng cho đến khi cả lòng đỏvà lòng trắng đông đặc.- Thịt hầm và các món chứa trứng khácnên được nấu ở nhiệt độ an toàn tối thiểu71°C (160°F), có thể dùng nhiệt kế để đảm bảochắc chắn.- Phục vụ món trứng hoặc món chứa trứngngay sau khi nấu hoặc cho vào lọ cạn và làmmát nhanh và giữ lạnh dùng sau đó, trongvòng 3 - 4 ngày.Nguyễn Văn NgàCông ty Cổ phần Mebi Farm(Biên dịch theo tài liệu của USDA)Email: mebifarm1@gmail.com

     

  • KIỂM SOÁT ĐỘ ẨM ĐẤT VÀ NƯỚC CHO VƯỜN CÀ PHÊ VIỆT NAM
  • Độ ẩm đất và nước sử dụng cà phê tại Việt Nam 
    Bối cảnh dự án

    Ở vùng cao nguyên miền Trung, những vùng rộng lớntrồng cà phê phụ thuộc nhiều vào lượng mưa theo mùa.Với khí hậu thay đổi, lượng mưa trở nên nhiều hơnkhông thể đoán trước và cần đầu tư vàotưới tối ưu. Hợp tác với phương TâyViện Khoa học Nông lâm Tây Nguyên(WASI) điều kiện độ ẩm của đất ở 4 tuổiCây cà phê Robusta đã được theo dõi.


    Kết quả

    Đầu dò độ ẩm quốc tế CNTT-TT (MP406)- được thiết kế để cài đặt / chôn lấp vĩnh viễn,được kết nối với máy đo độ ẩm đất CNTT (SMM1), đượcĐược sử dụng để theo dõi chế độ độ ẩm của đất từbề mặt đến độ sâu hồ sơ 45cm. Điều này cho phéptính toán tỷ lệ xâm nhập.


    Cuộc điều tra cũng theo dõi theo mùasự thay đổi của việc sử dụng nước cây đã được tìm thấykhông chỉ phụ thuộc vào độ ẩm của đất màcũng vào thời gian nắng theo mùa. Mùa mưa(giữa tháng 5 và tháng 12) mang lại nhiều hơnnhững ngày nhiều mây dẫn đến việc sử dụng nước thấp hơncây. Sử dụng nước mùa mưa là 3-4 lít mỗi câymỗi ngày và vào mùa khô là 5-6 lít mỗicây mỗi ngày.


    Giám sát và giải pháp mạng

    • Đầu dò độ ẩm đất trên bề mặt và ở 3 độ sâu - 15, 30 và 45 cm

    • Đồng hồ đo lưu lượng Sap trên cây 4 tuổi

    • Hệ thống từ xa 4G

    • Dữ liệu CNTT

  • GIẢI PHÁP NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TRÊN ĐỒNG RUỘNG TỪ CID
  •  

    Trên cánh đồng với CID Bio-Science & Felix Instruments

    Một bản tin hàng tháng của các tài liệu nghiên cứu được công bố có các công cụ đo lường CID và Felix.

     

    Đánh giá hiệu quả của hai máy quang phổ cầm tay có trên thị trường để xác định chất lượng nho và đào

    Quang phổ cận hồng ngoại (NIR) thường được sử dụng để đánh giá chất lượng nông sản tươi, vì nó không làm tổn hại đến nông sản và cho kết nhanh chóng.

    Donis-Gonzalez và cộng sự. Năm 2020, đã đánh giá hiệu suất của hai thiết bị trên thị trường, F-750, được sản xuất bởi Felix Instruments - USA và SCiO, từ Consumer Physics, Israel, trong việc dự đoán chất khô (DM) và tổng chất rắn hòa tan (TSS) trong ba giống nho và một giống đào.

     

    Cả hai dụng cụ đều dự đoán các thông số chất lượng trong nho tốt hơn so với đào.

    Nhìn chung, F-750 chính xác hơn trong dự đoán về DM và TSS, với R2 lần lượt là 0,83 và 0,97. Trong khi SCiO có độ chính xác thấp hơn với R2 lần lượt là 0,81 và 0,95 cho DM và TSS.

    Đọc bài báo đầy đủ tại đây>>>

    Xem máy đo chất lượng sản xuất NIR F-750

     

    Quan sát sự tăng trưởng của rễ và hiệu quả của nitơ đối với Cải dầu mùa đông tại vườn

    Để hiểu sự tăng trưởng của rễ có liên quan gì với hiệu quả sử dụng nitơ, Louvieaux và cộng sự năm 2020, sử dụng ba giống cải dầu mùa đông và áp dụng hai phương pháp xử lý nitơ. Công thức đối chứng không có nitơ và các công thức khác được cung cấp nitơ ở mức 240 kg / mẫu với hai lần, một lần khi gieo và một lần sau một tháng.

    Thiết bị quan sát hình ảnh rễ cây CI-600, được sử dụng để theo dõi sự phát triển của rễ tại các điểm quan trọng của cây trồng, như phát triển lá, kéo dài thân và ra hoa. Camera được lắp vào ống mica trong suốt, dài một mét, được lắp đặt ở góc 45 độ ngay sau khi gieo và độ sâu 50 cm trong đất.

    Phát triển lá đầu là giai đoạn quan trọng và rễ phát triển nhanh hơn mà không cần phân bón, nhưng không có sự khác biệt nào được tìm thấy trong sự phát triển của rễ giữa các giống. Chỉ số Thảm thực vật Chênh lệch được Chuẩn hóa (NDVI) có thể ước tính chính xác năng suất hạt và Chỉ số cân bằng nitơ (NBI) nồng độ nitơ trong cây trong quá trình ra hoa và trong hạt khi thu hoạch.

     

    Đọc bài báo đầy đủ tại đây>>>

    Xem thiết bị quan sát hình ảnh rễ cây CI-600

     

     

    Canxi và kẽm tác động đến những thay đổi sinh hóa trong cây trồng trong điều kiện nhiễm mặn

    Trong đất mặn, các chất dinh dưỡng thiết yếu ở dạng khó tiêu, cây trồng không hấp thụ được. Vì vậy, Ashraf và cộng sự. Năm 2019, đã kiểm tra phản ứng trên lá ở hai giống đậu xanh - chịu mặn và nhạy cảm với muối - được trồng trong điều kiện bình thường không có độ mặn và dưới 8.0 dS m−1 độ mặn. Họ đã sử dụng 3 dung dịch: 0,1% canxi (Ca), 0,1% kẽm (Zn) và kết hợp (Ca + Zn), so với các biện pháp kiểm soát không dùng dung dịch.

    Tất cả ba loại dung dịch đều có tác dụng có lợi đáng kể và cải thiện sinh lý và sinh hóa của đậu xanh trong cả điều kiện bình thường và nhiễm mặn. Các dung dịch làm tăng hàm lượng chất diệp lục, hoạt động quang hợp (được đo bằng CI-340), nitơ, phốt pho, kali và lượng sinh khối.

     

    Đọc bài báo đầy đủ tại đây>>>

    Xem Hệ thống quang hợp cầm tay CI-340

     

    Kết hợp phân bón phát triển chồi và lá giúp cải thiện năng suất flavonoids của lá Bạch quả

     

    Nhiệt độ ấm làm giảm flavonoids của lá bạch quả.  Wu và cộng sự. Năm 2020, nghiên cứu ảnh hưởng của các ứng dụng kết hợp phân bón đối với sự phát triển của chồi (FBG) và sự phát triển của lá (FLG) đối với năng suất và nồng độ flavonoid.

    Dựa trên kết quả, các nhà khoa học khuyên bạn nên áp dụng FBG vào mùa xuân để tăng số chồi, số cành, độ giãn dài của cành và cuối cùng là số lượng lá. FBG nên có nhiều nitơ hơn, và ít kali và phốt pho hơn. Mùa hè là thời điểm tốt nhất để áp dụng FLG để tăng cường tích lũy flavonoid.

     

    Đọc bài báo đầy đủ tại đây>>>

    Xem Hệ thống quang hợp cầm tay CI-203


    Tác động của ánh sáng đến tuổi thọ hoa Hồng môn (Anthurium andraeanum Hort) đã cắt để bình

    Evelyn và cộng sự 2020, đã thực hiện thử nghiệm đầu tiên, để nghiên cứu ảnh hưởng của sự tương tác của ánh sáng và màu sắc đối với hoa Hồng môn đã cắt, thêm nước và vẫn còn tươi. Hai giống hoa Hồng môn đã được chiếu sáng bằng ba đèn: LED cường độ cao, và đèn LED cường độ thấp và ánh sáng huỳnh quang.

    Cường độ ánh sáng cao hơn dẫn đến lượng nước hoa Hồng môn tiêu thụ cao hơn và kéo dài tuổi thọ bình hoa của giống cây sống lâu nhưng không phải là giống cây ngắn ngày. Ngoài ra, kết quả quang phổ từ Máy quang phổ lá CI-710 cho thấy sự tái tạo nhiều hơn với sự trưởng thành trong các hoa Hồng môn tồn tại lâu, dưới ánh sáng đỏ cường độ cao. Kết quả là, sản xuất carbohydrate nhiều giữ cho hoa sống và tươi.

     

    Đọc bài báo đầy đủ tại đây>>>

    Máy quang phổ kế CI-710

  • ĐỘC TỐ SHIGA (STEC) VÀ PHƯƠNG THỨC PHÁT HIỆN
  • Khuẩn E. coli và độc tố Shiga

    • E. coli là một loại vi khuẩn phổ biến sống trong đường ruột. Hầu hết E. coli đều vô hại với con người.
    • Một số E. coli sản sinh ra độc tố có tên là độc tố Shiga gây tiêu chảy và có thể dẫn đến bệnh nặng. Các E. coli sản sinh ra độc tố Shiga này đôi khi được gọi là STEC.
    • Nhiễm STEC có thể gây ra hội chứng huyết tán tăng urê máu (HUS) có thể làm hư thận và các cơ quan khác. Hầu hết những người bị nhiễm STEC đều không tiến triển thành HUS, nhưng trẻ nhỏ và người cao tuổi thì lại có nguy cơ gia tăng.
    • Các loại E. coli khác có thể gây ra nhiễm khuẩn thận, bàng quang và các bộ phận khác trong cơ thể.

    Có những triệu chứng nào?

    • Các triệu chứng của nhiễm khuẩn STEC có thể xuất hiện từ 1 đến 8 ngày sau khi phơi nhiễm (thường là trong vòng 2 đến 4 ngày) và bao gồm: Sốt thường ít gặp và khi xuất hiện thường là nhẹ.
      • Tiêu chảy, thường kéo dài trong vòng từ 5-7 ngày và thường ra máu
      • Co thắt dạ dày
    • Sốt thường ít gặp và khi xuất hiện thường là nhẹ.

    STEC có ở đâu và lây lan như thế nào?

    • Gia súc là ổ chứa vi khuẩn quan trọng nhất, đặc biệt là loài ăn cỏ nhai lại như trâu, bò, dê, cừu. Vi khuẩn cư ngụ trong đường ruột của những loài vật này và được đào thải ra môi trường qua phân của chúng. Người cũng có thể coi là ổ chứa vi khuẩn do đóng vai trò trong việc lây truyền người - người.
    • STEC rời cơ thể qua phân của người và động vật bị nhiễm khuẩn. Những người khác bị nhiễm khuẩn khi đưa tay, thực phẩm, đồ uống hoặc đồ vật dính phân bị nhiễm khuẩn vào miệng. Ví dụ về các loại thực phẩm và đồ uống thường bị nhiễm khuẩn bao gồm bánh hamburger chưa được nấu chín, nông sản tươi sống (bao gồm cả giá và rau diếp), sữa chưa được tiệt trùng, nước trái cây chưa được tiệt trùng và rượu táo chưa được tiệt trùng.
    • Các loại thực phẩm có thể bị nhiễm khuẩn từ phân bón trên cánh đồng nơi sản phẩm được trồng hoặc từ thịt bò sống hoặc nước chảy ra từ thịt bò nấu còn sống trong nhà bếp.
    • Mọi người cũng có thể bị nhiễm khuẩn do nuốt phải nước bị nhiễm khuẩn (ví dụ như nước từ hồ nước).
    • Những người bị nhiễm STEC mà không rửa sạch tay sau khi đi đại tiện có thể lây lan cho người khác.

    Phát hiện nhanh STEC bằng hệ thống 3M Molecular Detection System ?

    Kit phát hiện nhanh phân tử STEC 3M giúp phát hiện nhanh chóng và cụ thể độc tố shiga được tạo ra từ vi khuẩn E.coli trên nền mẫu môi trường và thực phẩm

    Nguyên lý của 3M Molecular Detection System dựa vào công nghệ LAMP là sự kết hợp giữa khuếch đại phân tử DNA đẳng nhiệt và phát quang sinh học cho kết quả nhanh nhất 24-27 giờ.

     

    Quy trình thực hiện 3 bước đơn giản

     

     

    Kit MDS phát hiện được cả độc tố STEC stx và eae với các ưu điểm:

    • Thao tác đơn giản các thử nghiệm lặp lại, dễ đào tạo cho nhân viên. 
    • Hóa chất sẵn có để sử dụng, giảm thao tác sai số do con  người
    • Các ống xét nghiệm được mã hóa màu bởi sinh vật và màn hình phần mềm phù hợp cho phép theo dõi tốt hơn và nhận dạng dễ dàng.
    • Có thể xét nghiệm đồng thời 96 mẫu trong mỗi lần chạy giúp vận hành hiệu quả hơn
    • Quá trình phát hiện và khuếch đại thời gian thực xác định kết quả tích cực ngay sau 15 phút và cho phép bạn đưa ra các quyết định quan trọng nhanh hơn.

     

    Kit MDS kiểm STEC Gene Screen (stx and eae)

    Phòng ngừa nhiễm khuẩn STEC như thế nào?

    • Sử dụng nhiệt kế nấu ăn khi nấu thịt bò xay (như bánh hamburger). Đảm bảo rằng nhiệt độ thịt hoàn toàn đạt ít nhất 160º F. Không ăn hamburger có màu hồng ở phần giữa.
    • Tách riêng các loại thịt, thịt gia cầm và thủy sản sống khỏi trái cây và rau quả và tất cả thức ăn sẵn và đã nấu chín.
    • Rửa tay, kệ bếp và đồ dùng bằng nước xà phòng nóng sau khi chạm vào thịt sống.
    • Không bao giờ đặt thức ăn đã nấu chín hoặc thức ăn sẵn lên đĩa chưa rửa đựng thịt bò xay còn sống hoặc thịt sống khác.
    • Rửa kỹ hoa quả và rau bằng nước xả từ vòi.
    • Chỉ uống sữa, nước trái cây và rượu táo tiệt trùng (đã xử lý).
    • Rửa kỹ tay bằng xà phòng và nước ấm sau khi đi vệ sinh, thay tã, sau khi tiếp xúc với động vật, trước khi ăn và sau khi chế biến thức ăn.
    • Giám sát trẻ em khi chúng rửa tay.
    • Người bị tiêu chảy không được bơi ở bể bơi hoặc hồ công cộng, tắm chung hoặc chế biến đồ ăn cho người khác.
    • Không uống nước chưa qua xử lý từ hồ, sông, suối, ao hoặc giếng cạn.
    • Cố gắng tránh nuốt phải nước hoặc ngậm nước trong miệng của mình khi bơi.